Đề Xuất 2/2023 # Đại Sứ Quán Và Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ Tại Việt Nam # Top 2 Like | Ngubao.com

Đề Xuất 2/2023 # Đại Sứ Quán Và Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ Tại Việt Nam # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đại Sứ Quán Và Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ Tại Việt Nam mới nhất trên website Ngubao.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thường trú nhân có thể tự do đi ra khỏi  Hoa Kỳ, và những chuyến du lịch ngắn thường không ảnh hưởng đến tình trạng thường trú nhân.  Tuy nhiên, nếu có bằng chứng xác định rằng quý vị không có ý định chọn Hoa Kỳ là nơi định cư, quý vị sẽ được xem như đã từ bỏ tình trạng thường trú nhân.

Khi có kế hoạch lưu trú bên ngoài Hoa Kỳ một năm trở lên, quý vị cần phải xin Giấy phép Tái nhập cảnh (Đơn I-131) trước khi rời Hoa Kỳ.  Giấy phép Tái nhập cảnh thể hiện rằng quý vị không có ý định từ bỏ tình trạng thường trú nhân, đồng thời cho phép quý vị tái nhập cảnh vào Hoa Kỳ sau khi lưu trú ở nước ngoài trong thời hạn hiệu lực của giấy phép Tái nhập cảnh mà không cần xin thị thực tái nhập cảnh.  Giấy phép Tái nhập cảnh thường có thời hạn hai năm kể từ ngày cấp.

Nếu quý vị đã và đang ở ngoài Hoa Kỳ hơn một năm hoặc quá thời hạn hiệu lực của giấy phép Tái nhập cảnh vì các lý do ngoài tầm kiểm soát, quý vị có thể đủ điều kiện xin thị thực tái nhập cảnh (SB-1).

Nếu quý vị đã và đang ở ngoài Hoa Kỳ hơn một năm hoặc quá thời hạn hiệu lực của Giấy phép Tái nhập cảnh một cách tự nguyện, quý vị có thể mất tình trạng thường trú nhân và phải tiến hành lại toàn bộ quá trình xin cấp thị thực định cư.  Để biết thêm thông tin về việc du lịch quốc tế khi đang là thường trú nhân, vui lòng truy cập trang web của Sở Di trú Hoa Kỳ.

Xin lưu ý thường trú nhân đến Hoa Kỳ theo diện tạm thời (thẻ xanh 2 năm) sẽ không được xin thị thực tái nhập cảnh SB-1 nếu thẻ xanh 2 năm đã hết hạn và thường trú nhân chưa thực hiện các bước cần thiết để gỡ bỏ tình trạng tạm thời này trước khi thẻ xanh hết hạn.  Trong trường hợp này, thường trú nhân đó phải được mở một hồ sơ bảo lãnh mới ở Sở Di trú và Nhập tịch Hoa Kỳ (USCIS), và bắt đầu lại quy trình xin thị thực định cư.

Diều Sáo Việt Nam Truyền Thống Và Hiện Đại

Từ bao đời nay, hình ảnh những chú bé ngồi trên lưng trâu thả Diều trong tranh dân gian Đông Hồ đã được coi như một biểu tượng của sự thanh bình của đất nước Việt Nam. Trong tâm thức của người Việt, thả Diều còn hàm chứa ý nghĩa tâm linh, khát vọng về ấm no hạnh phúc trong cuộc sống.

Lược sử phát triển

Từ bao đời nay, hình ảnh những chú bé ngồi trên lưng trâu thả Diều trong tranh dân gian Đông Hồ đã được coi như một biểu tượng của sự thanh bình của đất nước Việt Nam. Trong tâm thức của người Việt, thả Diều còn hàm chứa ý nghĩa tâm linh, khát vọng về ấm no hạnh phúc trong cuộc sống. Thú chơi Diều được phổ biến trên dải đất hình chữ S trải dài từ Bắc chí Nam đã rất lâu đời và mỗi vùng miền đều có những cánh Diều đặu Thcnủa người Khmer Nam Bộ với bộ phận phát âm bằng lá thốt nốt, Diều Kalang của người Chăm với hình dáng mang đậm dấu ấn tín ngưỡng phồn thực (trời – đất, âm – dương, đực – cái), Diều Huế cầu kỳ với màu sắc sinh động với hình dáng loài vật (rồng, công, phượng, bướm…) nhưng phổ biến nhất đến nay vẫn là Diều Sáo của đồng bằng Bắc Bộ.

Người dân vùng châu thổ sông Hồng vốn tài hoa và lịch lãm lạị cư trú trên những vùng đất bờ bãi mênh mông, đường đê uốn lượn, gió lộng quanh năm dường như đã nâng cánh thêm cho những cánh Diều bay lên. Hầu như ở làng nào cũng có người chơi Diều và biết làm Diều, khoét sáo. Nhiều lễ hội thả Diều truyền thống được tổ chức hàng năm như : Bá Dương Nội (Hoài Đức, Hà Nội), Sáo Đền (Song An, Vũ Thư, Thái Bình), Hòa Hậu (Lý Nhân, Hà Nam)… Thả Diều sáo chủ yếu được thực hiện sau mùa gặt hoặc đầu mùa mưa để cầu mong trời quang mây tạnh, mưa thuận gió hòa, lũ lụt không xảy ra – một nguy cơ luôn tiềm ẩn nơi đây. Lúc bấy giờ người nông dân cần khô ráo để thu hái, phơi phóng thóc lúa đồng thời cũng tự thưởng cho mình những giây phút thảnh thơi nghe sáo Diều vi vu. Cánh Diều và tiếng sáo lúc này đã trở thành sứ giả đem đến những điều tốt đẹp trọn vẹn của mùa màng.

Với nhiều làng quê thì cánh Diều Sáo vô cùng đặc biệt bởi nó không chỉ đơn giản là một trò chơi dân gian có lịch sử lâu đời mà thông qua đó còn mang chở vô vàn truyền thuyết lãng mạn, lý thú với nhiều ý nghĩa văn hóa đậm sắc Việt Nam và như để lý giải cho câu hỏi: Tại sao người Việt lại chơi Diều Sáo? Sâu xa hơn nó chính là chiều sâu tâm nguyện, mang theo triết lý sâu sắc của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.

Hiện nay bia ký và chính sử chưa giúp ta có câu trả lời chính xác cho sự ra đời của Diều Sáo Việt Nam. Nhưng nếu xem xét trên mức độ phổ biến trong dân gian hay tìm kiếm thông tin từ các nguồn sử liệu khác chúng ta có thể hình dung ra niên đại cho những cánh diều này. Hình cánh Diều trong những bộ tranh khắc ván Đông Hồ (Bắc Ninh) mà ở vào thời thịnh vượng nhất thì có thể thấy Diều chí ít cũng đã có mặt vào khoảng thời gian trước thế kỷ XVI. Tục thả Diều trong không gian lễ hội Sáo Đền (Thái Bình) nơi thờ bà Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao là có từ khi bà mất và còn tồn tại đến ngày nay thì Diều Sáo đã phổ biến ở nước ta từ trước thế kỷ XIV. Nếu câu chuyện truyền thuyết giải thích về tục thi Diều Sáo hiện nay ở làng Bá Dương Nội (Bá Giang) Hà Nội gắn với vị Thành hoàng Nguyễn Cả là xác đáng thì Diều sáo đã có mặt ở đây hơn 1000 năm. Trong tác phẩm “Vân Đài Loại Ngữ” Mục IX – Vật phẩm (gồm 300 điều) năm 1773 nhà bác học Lê Quý Đôn viết về Diều rất rõ ràng: “Cái Diều giấy, tự Hàn Tín làm ra”(Điều 63) Ông cho biết: “Ngày nay người ta thả Diều giấy lên cao cho trẻ con ngửa mặt lên trông để cho nhiệt hỏa từ trong người trẻ tiết ra hơi thở” rồi nhận xét : “Xem đó ta đủ thấy cổ nhân làm đồ chơi nhỏ mọn như thế cũng có ý nghĩa lắm” (điều 62). Gần đây hơn là trong cuốn sách nổi tiếng ” Kỹ thuật của người An Nam ” ta thấy có đến 6 bức tranh về Diều và thả Diều với nhiều hình dáng Diều khác nhau. Phải nói thêm đây là cuốn sách in theo lối mộc bản gồm 348 trang in cỡ lớn (62×44 cm) trên chất liệu giấy dó, ghi lại cảnh sinh hoạt, lao động hằng ngày của người Việt vào khoảng đầu thế kỷ 20. Sách do ông Henri Oger (người Pháp) cùng một số họa sĩ, thợ khắc mộc bản, thợ in thực hiện tại Hà Nội từ năm 1808 – 1809. Trong số 6 bức thì có 2 bức mô tả cảnh thi Diều, điều đó càng chứng tỏ rằng tục chơi Diều đã phổ biến trong dân gian đến thế nào. Nếu xét về hình thức cánh Diều mang hình ảnh chiếc lá (một thân, cong nhọn hai đầu- khó bay ổn định) sẽ thấy ró nét tương đồng với Diều các nước trong khu vực (Đông Nam Á). Tuy nhiên giới chuyên môn thừa nhận giả thuyết cánh Diều Sáo Việt Nam ra đời sớm hơn các nước trong khu vực này và chính Diều Sáo chứ không phải loại nào khác là đặc trưng và tiêu biểu cho Diều Việt Nam.

Trải qua một thời gian dài chiến tranh loạn lạc và kinh tế khó khăn, thêm vào đó là sự du nhập tràn lan của các loại đồ chơi hiện đại nhập khẩu đã làm thú chơi tao nhã và đậm đà bản sắc dân tộc này bị lãng quên, mai một ít nhiều. Cùng với sự nhiệt tâm gắng sức của những người có tâm huyết, hiện nay ở nước ta, thú chơi Diều đang ngày càng được quan tâm. Nhiều luận văn nghiên cứu về Diều Việt Nam của các học giả trong nước và quốc tế được thực hiện. Các bài báo, phóng sự truyền hình… về Diều được đăng tải ngày càng nhiều trên các phương tiện truyền thông. Các lễ hội truyền thống về Diều được khôi phục như ở Bá Dương Nội (Đan Phượng, Hà Nội); Sáo Đền (Song An, Vũ Thư, Thái Bình)… các liên hoan, hội thi Diều quy mô được tổ chức như Hội thi Diều ở Vũng Tàu, Hà Nội, Nam Định…Nhiều Câu lạc bộ Diều ra đời quy tụ hàng ngàn thành viên ở mọi lứa tuổi tham gia sinh hoạt. Bên cạnh đó, xuất hiện hàng chục ca khúc, hàng trăm bài thơ và nhiều tác phẩm hội họa, điêu khắc, điệu múa… nói tới hình tượng cánh Diều Sáo. Năm 2009, Liên hoan Diều quốc tế lần đầu tiên được tổ chức thành công ở Vũng Tàu, cánh Diều Sáo Việt Nam như được nâng cánh thêm bởi làn gió mới. Đặc biệt giới trẻ đã nhiệt tình đón nhận hưởng ứng và quay trở lại tiếp nối thú chơi này. Đó thực sự là tín hiệu đáng mừng cho việc chấn hưng văn hóa Diều Việt Nam.

Những bước đi trong kỹ thuật làm Diều Sáo

Từ xưa đến nay để có một chiếc Diều Sáo bay cao, ổn định với tiếng sáo du dương cần rất nhiều thời gian và người chế tác phải có đôi tay khéo léo.Tùy theo mức độ cầu kỳ, và hình dáng chế tác mà một chiếc Diều Sáo phải mất từ vài ngày đến cả vài tháng mới xong. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà chiếc Diều Sáo Việt cũng có những bước phát triển khác nhau. Về cơ bản Diều Sáo gồm 2 phần chính là Diều (vật mang chở) và sáo (vật tạo âm thanh). Người làm Diều Sáo xưa nay thường vẫn chỉ quan tâm chú ý đến phần “nghe” là sáo mà ít chú trọng đến phần “nhìn” là thân Diều trong việc chế tác. Cho đến mãi những năm gần đây người chơi vẫn chỉ làm ra những chiếc Diều đơn sơ, mộc mạc nếu như không muốn nói là đơn điệu và sơ sài. Ngược lại thì người chơi lại đặc biệt cầu kỳ, “khó tính” với mỗi chiếc/bộ sáo từ vật liệu đến tạo dáng hình và nhất là chỉnh âm thanh sao cho đạt đến độ tinh tế, hài hòa. Qua tìm hiểu khảo sát, chúng tôi nhận thấy đặc điểm địa lý tự nhiên cũng như địa văn hóa đã ảnh hưởng rất lớn đến hình dạng và âm thanh của Diều Sáo ở mỗi địa phương khác nhau

Cánh Diều: Tuy có sự khác nhau ở mỗi vùng về tạo dáng nhưng các công đoạn làm một cánh Diều thì tương đối giống nhau là đều công phu từ cách chọn vật liệu và hoàn thiện. Khung Diều cần chắc và nhẹ nên phải được làm bằng những tay tre già, ít mấu, khi vót phải đều như đuôi chuột, gò khung phải cân rồi uốn đều như cánh cung. Giữ khung Diều là một “sống Diều” bằng tre cứng to bản, nhô dài ra hai bên khung. Mỗi vùng lại có “kinh nghiệm dân gian” riêng để chống mối mọt hay để Diều dễ bay hơn.

Hình dáng: được cho là truyền thống của Diều Sáo Việt chỉ có một thân mang dáng một con thuyền/ mảnh trăng lưỡi liềm hay như một chiếc lá và không có bộ phận đuôi. Để dễ phân biệt và nhận biết các nghệ nhân xưa thường gọi tên Diều gắn với các vật thân quen xung quanh như: Cánh Chanh (lá chanh); Cánh Muỗm (lá muỗm); Cánh Phản (to phẳng, không uốn cong); hay Cánh Cắt ( thuôn nhọn như cánh chim cắt)…Khung Diều sau khi được đẽo gọt cẩn thận được buộc chắc chắn và dùng các sợi dây nhỏ đan lưới hình mắt cáo hay bàn cờ để “gò” dáng cân đối đồng thời tăng thêm độ chiu gió và là “giá đỡ” cho phất (dán) giấy sau này. Loại Diều này đòi hỏi người làm phải kỳ công và khéo léo thì mới đảm bảo dễ bay và ổn định.

Về sau này để Diều dễ bay ổn định và có thể mang những bộ sáo lớn người chơi đã cải tiến thêm vào bộ phận đuôi. Đuôi Diều cũng có nhiều hình dạng khác nhau và cũng mang tính đặc trưng vùng miền. Có nơi chỉ gồm hai cánh tròn nhỏ cân đối hai bên xương sống Diều (còn gọi là “dái Diều”), có nơi thêm phần nối giữa đuôi và cánh Diều bằng thân Diều (có nơi gọi là “bẹn Diều”). Căn cứ vào mức độ phổ biến tại các vùng miền hiện tại chúng tôi tạm chia hình dáng Diều theo năm định dạng địa lý tiêu biểu như sau : Diều Bá Giang (truyền thống); Diều Vĩnh Bảo; Diều Kiến Thụy; Diều Kinh Môn; Diều Thái Bình.

Gần đây nhiều loại vật liệu mới như sợi thủy tinh, fiber hay graphite carbon đã được đưa vào để giúp khung Diều mạnh mẽ và nhẹ nhàng hơn. Nếu trước đây cánh Diều Sáo Việt Nam chỉ bay trên cánh đồng làng do có bộ khung hình cố định, không thể di chuyển đi xa thì ngày nay những người chơi đã biết ứng dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại để có những bộ khung Diều có thể tháo, gấp gọn lại nhưng vẫn đảm bảo hình dạng truyền thống và độ bền chắc như mong muốn. Qua đó giúp cho cánh Diều Sáo Việt Nam bay cao vươn xa đến với bạn bè ở khắp năm châu.

Áo Diều: cũng giống như khung được hoàn thiện bởi cả một công đoạn công phu, cầu kỳ gọi là phất Diều (dán/khâu/may Diều).

Diều xưa được phất hai mặt bằng giấy bản, giấy dó với chất kết dính là nhựa cậy (như làm quạt) rồi được phơi khô trong bóng râm để tránh nứt vỡ. Nhựa cây được đổ ra mâm rồi lấy giấy nhúng cho ướt đều để phất lên khung đã gò sẵn trước đó. Phất kiểu này khiến cho cánh Diều khi khô căng phẳng như mặt trống lại có thể chịu được mưa ẩm và không nấm mốc hay gián nhấm. Cách làm này cũng khiến cho Diều xưa chỉ có một tông màu đơn giản từ vàng tối đến nâu sẫm.

Sau này khi có các vật liệu mới người chơi đã thay thế bằng giấy bao bì, vải, màng nilon… và phất bằng hồ, keo dán hoặc khâu cố định lên khung. Màu sắc cũng được cải thiện đa dạng hơn.

Vài năm trở lại đây, khi đã có sự giao lưu với quốc tế thì một số nghệ nhân đã sử dụng các vật liệu tiên tiến và chuyên dụng như vải dù, vải polyester vải rip-stop. Cùng với vật liệu là công nghệ may ống bằng máy giúp áo Diều siêu nhẹ và siêu bền có thể tháo lắp khỏi khung Diều dễ dàng và linh hoạt. Đồng thời cũng giúp cho những cánh Diều sáo hiện đại ngày càng trở nên rực rỡ, tinh xảo như những bức tranh ghép vải nghệ thuật mà vẫn giữ nguyên dáng vẻ truyền thống.

Sáo Diều: Khác hẳn với cánh Diều, có lẽ Sáo Diều đã không có sự thay đổi đáng kể nào kể từ khi nó ra đời. Có chăng nghệ nhân ngày nay cũng chỉ đưa máy móc, phụ liệu vào một vài công đoạn cho nhanh hơn mà thôi. Nó thực sự không đáng kể để có thể gọi là sự thay đổi hay cải tiến. Dù là xưa hay nay, chiếc Diều Sáo có “hồn” hay không thì phần quan trọng nhất vẫn là cái/bộ sáo gắn trên nó. Các công đoạn làm Sáo Diều vẫn phải thủ công đòi hỏi nhiều công phu và đôi tay khéo léo mà người làm không khác gì nghệ sĩ thực thụ.

Phần ống sáo tốt phải được chọn từ cây nứa đốt dài, có nơi bỏ ruột chỉ lấy phần cật nhưng có nơi (phần nhiều) lại làm ngược lại. Chính giữa khoét một lỗ vuông thông qua thân ống tre, phía trong hai bên lỗ lấy tre hay gỗ nhẹ, mỏng bít lại bằng keo, hai đầu ống gắn hai miệng (còn gọi là bửng) sáo. Gỗ dùng để khoét miệng sáo phải là gỗ mít hoặc gỗ vàng tâm, thậm chí là dùng sừng trâu. Miệng sáo khoét một lỗ dài bằng đường kính trong của ống sáo nơi đây gió sẽ lọt vào, rung trong ống sáo rồi thoát ra cùng với âm thanh. Sáo nào có độ rung tốt gọi là “sáo ngân”, sáo nào không có độ rung, hoặc rung ít gọi là “sáo xổng”. Cái khó của người làm sáo là làm sao chỉnh cho hai bên miệng cân bằng và phát ra cùng một thanh âm đồng thời các sáo trên một dàn phải “ăn” tiếng với nhau tạo nên một hợp âm mong muốn. Âm thanh của một bộ sáo thường được các nghệ nhân “định vị” gắn với các âm thanh quen thuộc thường ngày như: tiếng chuông (chùa, nhà thờ); tiếng cồng; tiếng chiêng; tiếng ốc (tù và)… Gần đây cũng có người chỉnh âm sáo theo nhạc lý như: Hợp âm đô trưởng;: Hợp âm pha… Có sự khác nhau trong “gu” thưởng thức (âm sắc cao thấp, tiết tấu nhanh chậm…) và cách đánh giá âm thanh sáo Diều ở mỗi vùng nhưng tất cả đều đồng thuận rằng một bộ sáo hay phải có âm thanh “tròn vành rõ tiếng” không có tạp âm và phải có độ ngân tốt.

Cũng tùy sở thích mà có vùng chỉ ưa chơi sáo đơn (một ống) nhưng phần nhiều là chơi sáo dàn ( gồm 3, 5, 7 ống hoặc hơn). Kích cỡ các sáo trong một bộ ở mỗi nghệ nhân đều theo tỷ lệ nhất định và không hoàn toàn giống nhau nhưng đều phải tuân thủ theo nguyên tắc nhỏ dần. Sáo lớn nhất được gọi là sáo cái. Sáo được xâu lại bằng một thanh tre, buộc chặt với xương sống Diều. Tùy theo kích thước của mỗi chiếc Diều hay cấp độ gió nơi đâm/thả Diều mà người ta tạo/gắn cho nó một bộ sáo phù hợp hay còn gọi là ” Diều nào sáo ấy”. Một bộ sáo của Diều này gắn sang Diều khác có hình dáng kích cỡ khác nhau thì sẽ cho ra âm thanh khác nhau vì “hụt hơi” hoặc “thừa hơi”. Một bộ sáo thả trên vùng gió cấp 2 sẽ khác tiếng khi chơi ở nơi gió cấp 4. Chuyện chế tác từng chiếc sáo cho đúng cung bậc, hợp “khẩu vị” và chọn sáo cho hợp với Diều là cả một kỹ năng về âm nhạc đến tầm nghệ thuật không phải ai cũng làm được.

Trên đường hội nhập quốc tế

Mới chỉ cách đây dăm năm bạn bè quốc tế còn hầu như chưa biết đến Diều sáo mà nhắc tới Văn hóa Diều Việt Nam họ luôn cho rằng đó là những cánh Diều Huế sặc sỡ, đậm dấu ấn cung đình. Mới chỉ ít năm trở lại đây thông qua nhiều hoạt động giao lưu văn hóa, Diều Sáo Việt mới có dịp bay cao, bay xa từng bước hội nhập và phát triển nhờ vào sự đam mê khao khát, tìm tòi và sang tạo của những nghệ nhân tiêu biểu như: Nguyễn Thanh Vân (thành phố Hồ Chí Minh); Nguyễn Văn Cư (Huế); Nguyễn Hữu Kiêm (Hà Nội)… Nhưng đặc biệt phải nhắc tới ông Quan Hằng Cao – một kỹ sư điện tử sống và làm việc tại nước ngoài – người hiểu được giá trị văn hóa ẩn sâu trong nó, ông luôn trăn trở tìm cách đưa Sáo Diều Việt Nam ra nước ngoài, giới thiệu với bạn bè quốc tế. Ông là người đi tiên phong trong việc cải tiến những cánh Diều sáo truyền thống từ hình thức cho đến vật liệu và phương pháp chế tác. Nhưng Diều sáo truyền thống khung bằng tre buộc cố định dài 4 – 5m, rất khó vận chuyển đi xa, nhất là đưa lên máy bay nên sau một thời gian dài tìm hiểu các loại Diều trên thế giới rồi mày mò, nghiên cứu, tháo lắp, làm hỏng cả chục con Diều, ông Cao đã tìm ra phương pháp làm xương Diều gấp gọn lại được và lắp ghép lại hoàn chỉnh chỉ trong vài phút. Các điểm buộc cố định khung Diều trước đây được thay bằng các khớp tháo lắp bằng kim loại nhẹ và chắc chắn. Áo Diều được may bằng vải tốt (mỏng, nhẹ, bền, không co giãn) do đó loại bỏ được các loại dây buộc mà Diều vẫn giữ đúng dáng khi lắp lại. Để tạo thêm sức hút cho Diều ông đã tỷ mỉ may khảm lên Diều những họa tiết trang trí thậm chí là cả bức tranh sinh động, tinh xảo bằng những miếng vải mầu ghép lại. Diều sáo giờ đây đã được nâng tầm trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực thụ gồm hình ảnh sống động, âm thanh du dương, kết cấu bền chắc và sử dụng thuận tiện, dễ dàng. Tiếng Sáo Diều đặc trưng ngân nga, quyến rũ luôn làm bè bạn quốc tế kinh ngạc, thán phục tại bất kỳ lễ hội nào có đoàn Việt Nam tham dự là một thành công lớn khiến ông Cao rất đỗi tự hào.

Người ta bắt đầu nhắc đến Diều Sáo Việt Nam trong mỗi lễ hội Diều quốc tế được tổ chức trên thế giới. Nhiều bảo tàng trên thế giới đã sưu tầm trưng bày Diều Sáo Việt Nam. Từ “Diều Sáo” đã không cần phải dịch ra ngôn ngữ khác mà bạn bè quốc tế vẫn có thể hiểu được. Năm 2011 hai chuyên gia người Đức đã sang Việt Nam nghiên cứu về tiếng sáo Diều và quả quyết rằng: “Tiếng Sáo Diều tựa như tiếng đàn phong cầm trong các nhà thờ (thiên chúa giáo) có thứ âm thanh mang tính tự nhiên khiến người nghe có thể nghỉ ngơi, thư giãn tinh thần, có thể dùng làm phương pháp trị liệu trong y học. Diều Sáo của Việt Nam thực sự là một di sản văn hóa quý giá không nước nào có được”.

Lê Thanh Bình

Thủ Tục Hợp Pháp Hóa Lãnh Sự, Chứng Nhận Lãnh Sự

THỦ TỤC HỢP PHÁP HÓA LÃNH SỰ, CHỨNG NHẬN LÃNH SỰ

(Theo Thông tư 01/2012/TT-BNG hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định 111/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự có hiệu lực từ ngày 15/5/2012 thay thế Thông tư số 01/1999/TT-NG ngày 3/6/1999 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao quy định thể lệ hợp pháp hóa giấy tờ, tài liệu)

I. Thủ tục chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu tại các cơ quan trong nước:

1. Trình tự thực hiện:

1.1. Nộp hồ sơ:

a) Tại Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao):

Địa chỉ: 40 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội

Thời gian nộp hồ sơ và nhận kết quả: Từ thứ Hai đến thứ Sáu và sáng thứ Bẩy, trừ các ngày lễ, Tết.

b) Tại Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh (Bộ Ngoại giao).

Địa chỉ: 184 Bis Pasteur, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh

Thời gian nộp hồ sơ và nhận kết trả: các ngày làm việc trong tuần và sáng thứ Bẩy, trừ Chủ Nhật và các ngày lễ, Tết.

1.2. Cục Lãnh sự, Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh, xem xét giải quyết.

1.3. Nhận kết qủa trực tiếp tại trụ sở cơ quan theo giấy biên nhận hồ sơ hoặc hồ sơ được gửi trả qua đường bưu điện cho đương sự.

2. Cách thức thực hiện:

– Nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở cơ quan hành chính ; hoặc

– Gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ TP. Hồ Chí Minh: được thực hiện tại tất cả các bưu điện thuộc hệ thống bưu chính Việt Nam theo thỏa thuận dịch vụ giữa Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và Công ty cổ phần chuyển phát nhanh bưu điện (EMS) thuộc Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam.

3. Thành phần, số lượng hồ sơ:

3.1. Thành phần hồ sơ :

a.  Đối với việc chứng nhận lãnh sự giấy tờ, tài liệu của Việt Nam để được công nhận và sử dụng ở nước ngoài:

– Tên thành phần hồ sơ 1: 01 Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hoá lãnh sự theo mẫu số LS/HPH-2012/TK (Có thể in từ Cổng thông tin điện tử về Công tác lãnh sự – Bộ Ngoại giao: lanhsuvietnam.gov.vn).

– Tên thành phần hồ sơ 2:  Bản chính giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp; hoặc+ 01 bản chụp giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện. Giấy tờ này không cần phải chứng thực.

– Tên thành phần hồ sơ 3: Giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự.

– Tên thành phần hồ sơ 4 : 01 bản chụp giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự.

– Tên thành phần hồ sơ 5 : 01 phong bì có ghi rõ địa chỉ người nhận (nếu hồ sơ gửi qua đường bưu điện và yêu cầu trả kết quả qua đường bưu điện).

b.  Đối với việc hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để được công nhận và sử dụng ở Việt Nam:

– Tên thành phần hồ sơ 1: 01 Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hoá lãnh sự theo mẫu số LS/HPH-2012/TK.

– Tên thành phần hồ sơ 2:

+ Bản chính giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp; hoặc

+ 01 bản chụp giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện. Giấy tờ này không cần phải chứng thực.

– Tên thành phần hồ sơ 3: Giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự (đã được cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước ngoài chứng nhận).

– Tên thành phần hồ sơ 4: 01 bản chụp giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự.

– Tên thành phần hồ sơ 5: 01 bản dịch giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự sang tiếng Việt hoặc tiếng Anh (nếu giấy tờ, tài liệu đó không được lập bằng các thứ tiếng này). Bản dịch không phải chứng thực. Người nộp hồ sơ phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch.

– Tên thành phần hồ sơ 6: 01 bản chụp bản dịch giấy tờ, tài liệu.

– Tên thành phần hồ sơ 7 : 01 phong bì có ghi rõ địa chỉ người nhận (nếu hồ sơ gửi qua đường bưu điện và yêu cầu trả kết quả qua đường bưu điện).

3.2. Số lượng  hồ sơ: Một (01) bộ.

4. Thời hạn giải quyết:

– 01 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

-  Trường hợp hồ sơ có số lượng từ 10 giấy tờ, tài liệu trở lên thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không quá 05 ngày làm việc.

– Trường hợp cần kiểm tra tính xác thực của con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự thì ngay sau khi nhận hồ sơ, Bộ Ngoại giao có văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lập, công chứng, chứng thực, chứng nhận giấy tờ, tài liệu đó hoặc cơ quan, tổ chức cấp trên xác minh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao. Ngay sau khi nhận được trả lời, Bộ Ngoại giao giải quyết và thông báo kết quả cho người đề nghị chứng nhận lãnh sự.

– Trường hợp chữ ký, con dấu và chức danh của cơ quan và người có thẩm quyền của nước ngoài (quy định tại tên thành phần hồ sơ 3) trong hồ sơ đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự chưa được chính thức thông báo hoặc cần kiểm tra tính xác thực, Bộ Ngoại giao đề nghị cơ quan này xác minh. Ngay sau khi nhận được kết quả xác minh, Bộ Ngoại giao giải quyết hồ sơ và trả kết quả cho đương sự.

5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức.

6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cục Lãnh sự, Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Tem (hoặc dấu) chứng nhận trên giấy tờ, tài liệu đề nghị chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.

8. Lệ phí:

Tên lệ phí

Mức phí

Văn bản quy định

1. Hợp pháp hóa lãnh sự

30.000 VNĐ/bản/lần

Thông tư số 98/2011/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 36/2004/TT-BTC ngày 26/4/2004 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu nộp và quản lý sử dụng lệ phí hợp pháp hóa, chứng nhận lãnh sự.

2. Chứng nhận lãnh sự

30.000 VNĐ/bản/lần

Thông tư số 98/2011/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 36/2004/TT-BTC ngày 26/4/2004 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu nộp và quản lý sử dụng lệ phí hợp pháp hóa, chứng nhận lãnh sự.

9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự theo mẫu số LS/HPH-2012/TK (khai trực tiếp hoặc khai trực tuyến).

10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

10.1. Các giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự:

– Giấy tờ, tài liệu được chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

– Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Giấy tờ, tài liệu mà cơ quan tiếp nhận của Việt Nam hoặc của nước ngoài không yêu cầu phải hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự phù hợp với quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam hoặc của nước ngoài.

10.2. Các giấy tờ, tài liệu không được chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự:

– Giấy tờ, tài liệu bị sửa chữa, tẩy xóa nhưng không được đính chính theo quy định pháp luật.

– Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự có các chi tiết trong bản thân giấy tờ, tài liệu đó mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với giấy tờ, tài liệu khác trong hồ sơ đề nghị chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.

– Giấy tờ, tài liệu giả mạo hoặc được cấp, chứng nhận sai thẩm quyền theo quy định pháp luật.

– Giấy tờ, tài liệu đồng thời có con dấu và chữ ký không được đóng trực tiếp và ký trực tiếp trên giấy tờ, tài liệu. Con dấu, chữ ký sao chụp dưới mọi hình thức đều không được coi là con dấu gốc, chữ ký gốc.

– Giấy tờ, tài liệu có nội dung vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam, không phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam hoặc các trường hợp khác có thể gây bất lợi cho Nhà nước Việt Nam.

10.3. Yêu cầu cụ thể đối với các giấy tờ, tài liệu đề nghị chứng nhận lãnh sự:

a. Là giấy tờ, tài liệu của Việt Nam để được công nhận và sử dụng ở nước ngoài.

b. Giấy tờ, tài liệu có thể đề nghị được chứng nhận lãnh sự là giấy tờ, tài liệu được lập, công chứng, chứng thực, chứng nhận bởi:

– Các cơ quan thuộc Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án, Viện Kiểm sát; các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương và địa phương.

– Cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;

– Các tổ chức hành nghề công chứng của Việt Nam;

– Giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác cấp, chứng nhận theo quy định của pháp luật bao gồm:

+ Văn bằng, chứng chỉ giáo dục, đào tạo;

+ Chứng nhận y tế;

+ Phiếu lý lịch tư pháp;

+ Giấy tờ, tài liệu khác có thể được chứng nhận lãnh sự theo quy định của pháp luật.

c. Mẫu con dấu, mẫu chữ ký và chức danh của các cơ quan và người có thẩm quyền nêu tại điểm 10.3.b phải được giới thiệu trước cho Bộ Ngoại giao.

10.4. Yêu cầu cụ thể đối với giấy tờ, tài liệu đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự:

– Là giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để được công nhận và sử dụng ở Việt Nam.

– Được cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước ngoài cấp, chứng nhận.

– Mẫu con dấu, mẫu chữ ký và chức danh của các cơ quan và người có thẩm quyền của nước ngoài phải được giới thiệu trước cho Bộ Ngoại giao.

11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

1. Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.

2. Thông tư số 01/2012/NĐ-CP ngày 20/3/2012 của Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP.

3. Thông tư số 36/2004/TT-BTC ngày 26/04/2004 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí hợp pháp hoá, chứng nhận lãnh sự.

4. Thông tư số 98/2011/TT-BTC ngày 5/7/2011 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 36/2004/TT-BTC ngày 26/4/2004 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí hợp pháp hoá, chứng nhận lãnh sự.

II. Thủ tục chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài:

1. Trình tự thực hiện

1.1. Nộp hồ sơ: Tại trụ sở Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quan đại diện) có thẩm quyền chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự ở nước ngoài.

Thời gian nộp hồ sơ và nhận kết trả: các ngày làm việc theo quy định của Cơ quan đại diện (trừ các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của nước sở tại và các ngày lễ, Tết theo quy định của Việt Nam).

1.2. Cơ quan đại diện tiếp nhận hồ sơ, xem xét giải quyết.

1. 3. Nhận kết qủa trực tiếp tại trụ sở cơ quan hoặc hồ sơ được gửi trả qua đường bưu điện cho đương sự.

2. Cách thức thực hiện: Nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Cơ quan đại diện hoặc gửi hồ sơ qua đường bưu điện.

3. Thành phần, số lượng hồ sơ:

3.1. Thành phần hồ sơ :

a.  Đối với việc chứng nhận lãnh sự giấy tờ, tài liệu của Việt Nam để được công nhận và sử dụng ở nước ngoài:

– Tên thành phần hồ sơ 1: 01 Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hoá lãnh sự theo mẫu số LS/HPH-2012/TK (có thể in từ Cổng thông tin điện tử về công tác lãnh sự – Bộ Ngoại giao: lanhsuvietnam.gov.vn).

– Tên thành phần hồ sơ 2:

+ Bản chính giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp; hoặc

+ 01 bản chụp giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện. Giấy tờ này không cần phải chứng thực.

– Tên thành phần hồ sơ 3: Giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự (đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam chứng nhận theo quy định tại Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP).

– Tên thành phần hồ sơ 4: 01 bản chụp các giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự.

– Tên thành phần hồ sơ 5: 01 phong bì có ghi rõ địa chỉ người nhận (nếu hồ sơ được gửi qua đường bưu điện và yêu cầu gửi trả hồ sơ qua đường bưu điện).

b. Đối với việc hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để được công nhận và sử dụng ở Việt Nam:

– Tên thành phần hồ sơ 1: 01 Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hoá lãnh sự theo mẫu số LS/HPH-2012/TK.

– Tên thành phần hồ sơ 2:

+ Bản chính giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp; hoặc

+ 01 bản chụp giấy tờ tùy thân (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu) đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện. Giấy tờ này không cần phải chứng thực.

– Tên thành phần hồ sơ 3: Giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự (đã được chứng nhận bởi Bộ Ngoại giao nước sở tại hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài nơi có Cơ quan đại diện Việt Nam hoặc có Cơ quan đại diện Việt Nam kiêm nhiệm).

– Tên thành phần hồ sơ 4 : 01 bản chụp giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự.

– Tên thành phần hồ sơ 5: 01 bản dịch giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự sang tiếng Việt, tiếng Anh, trừ các trường hợp sau đây:

+ Giấy tờ, tài liệu đó được lập bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh; hoặc

+ Giấy tờ, tài liệu bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Trung, tiếng Đức và đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự tại Cơ quan đại diện Việt Nam tương ứng ở Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Trung Quốc, Đức; hoặc

+ Giấy tờ, tài liệu được lập bằng các thứ tiếng khác ngoài các tiếng Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Trung, Đức, đề nghị hợp pháp hóa tại các Cơ quan đại diện khác, nếu Cơ quan đại diện này có cán bộ tiếp nhận hồ sơ hiểu được thứ tiếng đó.

– Tên thành phần hồ sơ 6: 01 bản chụp bản dịch giấy tờ, tài liệu để lưu hồ sơ.

– Tên thành phần hồ sơ 7: 01 phong bì có ghi rõ địa chỉ người nhận (nếu hồ sơ gửi qua đường bưu điện và yêu cầu gửi trả qua đường bưu điện).

* Trường hợp cần kiểm tra tính xác thực của con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu đề nghị được chứng nhận lãnh sự thì ngay sau khi nhận hồ sơ, Cơ quan đại diện có văn bản đề nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam xác minh. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Cơ quan đại diện. Ngay sau khi nhận được trả lời, Cơ quan đại diện giải quyết và thông báo kết quả cho người đề nghị chứng nhận lãnh sự.

3.2. Số lượng  hồ sơ: Một (01) bộ.

4. Thời hạn giải quyết:

– 01 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

– Trường hợp hồ sơ có số lượng từ 10 giấy tờ, tài liệu trở lên thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không quá 05 ngày làm việc.

– Trường hợp mẫu con dấu, mẫu chữ ký và chức danh của cơ quan và người có thẩm quyền chứng nhận lãnh sự nước ngoài chưa được chính thức thông báo hoặc cần kiểm tra tính xác thực, Cơ quan đại diện đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác minh. Ngay sau khi nhận được kết quả xác minh, Cơ quan đại diện giải quyết hồ sơ và trả kết quả cho đương sự.

5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân, tổ chức.

6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

7. Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Tem (hoặc dấu) chứng nhận đóng trên giấy tờ, tài liệu đề nghị chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hoá lãnh sự.

8. Lệ phí:

Tên lệ phí

Mức phí

Văn bản quy định

1. Hợp pháp hóa lãnh sự

10 USD/bản/lần

Thông tư số 236/2009/BTC ngày 15/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí lãnh sự tại các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài

2. Chứng nhận con dấu và chữ ký (chứng nhận lãnh sự)

02 USD/bản/lần

Thông tư số 236/2009/BTC ngày 15/12/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí lãnh sự tại các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài (mục B, điểm 9a của Biểu mức thu phí và lệ phí lãnh sự).

9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Tờ khai chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự theo mẫu số LS/HPH-2012/TK (khai trực tiếp hoặc khai trực tuyến).

10. Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

10.1. Các giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự:

– Giấy tờ, tài liệu được chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

– Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Giấy tờ, tài liệu mà cơ quan tiếp nhận của Việt Nam hoặc của nước ngoài không yêu cầu phải hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự phù hợp với quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam hoặc của nước ngoài.

10.2. Các giấy tờ, tài liệu không được chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự:

– Giấy tờ, tài liệu bị sửa chữa, tẩy xóa nhưng không được đính chính theo quy định pháp luật.

– Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự có các chi tiết trong bản thân giấy tờ, tài liệu đó mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với giấy tờ, tài liệu khác trong hồ sơ đề nghị chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.

– Giấy tờ, tài liệu giả mạo hoặc được cấp, chứng nhận sai thẩm quyền theo quy định pháp luật.

– Giấy tờ, tài liệu đồng thời có con dấu và chữ ký không được đóng trực tiếp và ký trực tiếp trên giấy tờ, tài liệu. Con dấu, chữ ký sao chụp dưới mọi hình thức đều không được coi là con dấu gốc, chữ ký gốc.

– Giấy tờ, tài liệu có nội dung vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam, không phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam hoặc các trường hợp khác có thể gây bất lợi cho Nhà nước Việt Nam.

10.3. Yêu cầu cụ thể đối với các giấy tờ, tài liệu đề nghị chứng nhận lãnh sự:

– Là giấy tờ, tài liệu của Việt Nam để được công nhận và sử dụng ở nước ngoài.

– Đã được Bộ Ngoại giao Việt Nam chứng nhận.

10.4. Yêu cầu cụ thể đối với giấy tờ, tài liệu đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự:

– Là giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để được công nhận và sử dụng ở Việt Nam.

– Giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự (đã được Bộ Ngoại giao nước sở tại, cơ quan khác của nước ngoài được ủy quyền chứng nhận).

– Mẫu con dấu, mẫu chữ ký và chức danh của các cơ quan và người có thẩm quyền của nước ngoài phải được giới thiệu trước cho Cơ quan đại diện Việt Nam.

11. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:

– Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.

– Thông tư số 01/2012/NĐ-CP ngày 20/3/2012 của Bộ Ngoại giao hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP.

– Thông tư số 36/2004/TT-BTC ngày 26/4/2004 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí hợp pháp hóa, chứng nhận lãnh sự.

– Thông tư số 98/2011/TT-BTC ngày 5/7/2011 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 36/2004/TT-BTC ngày 26/4/2004 của Bộ Tài Chính quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí hợp pháp hóa, chứng nhận lãnh sự.

Kỹ Thuật Trồng Hoa Sứ Trong Chậu Và Mẹo Ra Hoa Đẹp

Ngày còn nhỏ, nhà tôi có trồng và nhân giống các loại hoa Sứ, ba tôi là người có kỹ thuật trồng cây hoa Sứ rất cao, may mắn là tôi cũng học được chút ít kỹ thuật này của ba. Hoa Sứ là một loại cây dễ trồng, nhưng để trồng được cây hoa Sứ khỏe mạnh ,dáng đẹp, rễ đẹp ra hoa sai lại cần một kỹ thuật trồng Sứ rất cao mà không phải ai cũng có thể làm được.

Hôm nay tôi sẽ vận dụng vào trí nhớ siêu phàm của mình để hướng dẫn các bạn cách trồng hoa sứ trong chậu đẹp và mẹo giúp Sứ ra hoa sai, nở đúng ngày tết, như cách mà ba tôi đã hướng dẫn tôi ngày trước.

Kỹ thuật trồng cây hoa Sứ dễ dàng hiệu quả.

Chuẩn bị vật liệu trồng hoa Sứ.

Chậu trồng cây hoa Sứ: hoa Sứ luôn được trồng trong chậu, từ giai đoạn trồng cây non đến giai đoạn Sứ ra hoa. Khi trồng bạn phải thay chậu liên tục cho Sứ để phù hợp với tốc độ lớn của cây.

Trồng Sứ trong chậu cũng giúp bạn dễ dàng di chuyển và tạo dáng cho bộ rễ, mỗi lần thay chậu bạn nên trồng cây hoa Sứ cao lên một tí, để rễ sứ được phát triển toàn diện, dáng đẹp hơn.

Với những ai trồng hoa Sứ để chơi, để trang trí thì nên chọn chậu bằng xi măng. Với những người trồng Sứ để kinh doanh thì chậu nhựa trồng cây là một giải pháp bạn nên chọn vì tính tiện dụng của nó. Khi chọn chậu bạn phải đảm bảo có lỗ thoát nước tốt để tránh trường hợp bộ rễ bị thối do ngập úng nước.

Tìm hiểu thêm nhiều kích thước chậu nhựa trồng cây để phù hợp với nhiều giai đoạn phát triển của Hoa Sứ.

Đất trồng: cây hoa sứ là cây rất dễ trồng nên có thể phù hợp với mọi loại đất, trước khi trồng bạn cần phải làm đất tơi xốp và thoát nước tốt để tránh ngập cho bộ rễ.

Trồng cây: Thường thì có 2 cách chính để trồng hoa Sứ, đó là trồng bằng hạt và trồng bằng cách giâm cành. Khi trồng bằng phương pháp giâm cành cây sẽ nhanh mọc rễ hơn, phát triển nhanh, tỉ lệ sống cao hơn nhưng lại giảm tuổi thọ của cây, giảm sức đề kháng của hoa Sứ.

Còn khi trồng bằng hạt, hoa Sứ sẽ phát triển chậm hơn, tỉ lệ mọc chồi thấp hơn một xíu nhưng cây sẽ khỏe, sống lâu và bộ rễ đẹp, dễ tạo dáng hơn.

Cách sang chậu và tạo hình cho bộ rễ hoa Sứ

Sau khi trồng sứ một thời gian, cây hoa sứ sẽ lớn và bộ rễ sẽ ngày phình to ra. Đây là thời điểm bạn cần thay chậu cho phù hợp với cây và là thời điểm để bạn tạo dáng cho cây.

Các bước thay chậu và tạo dáng diễn ra như sau.

Bước 1: Nhổ cây hoa Sứ ra khỏi chậu cũ một cách cẩn thận, nhẹ nhàng, khều bớt đất giữa các khe hở của rễ, dùng bình xịt làm sạch hoàn toàn lớp đất bám trên rễ, tránh làm trầy củ, đứt dập rễ.

Bước 2: Dùng dao cắt tỉa bộ nhánh của hoa Sứ để dáng to như ý muốn, cắt bỏ hết các rễ nhỏ quanh bộ củ và các rễ cám để tránh trường hợp sau này những rễ đó bị dập thúi dẫn đến cây mang bệnh. Tất cả các vết cắt từ thân, rễ, củ đều phải được bôi vôi tôi hoặc sơn nhằm làm cho vết thương khô, liền sẹo không bị nhiễm bệnh sau khi trồng lại xuống đất.

Bước 3: Treo cây hoa Sứ lên chỗ râm khô thoáng mát từ 10-15 ngày với mục đích giúp các vết cắt khô, lành lại, tránh phơi trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời có thể làm phỏng hoặc héo cây.

Bước 4: Đem cây vào chậu mới, chất liệu chậu như tôi nói, nếu trồng chơi thì có thể cọn chậu bằng xi măng, còn nếu trồng bán nên chọn chậu nhựa trồng cây. Vào đất và tưới phung sương trước khi trồng. Đem cây sau khi vào chậu ra phơi nắng sớm ( nắng 50%) từ 10-15 ngày. Quang sát đến khi thấy các mầm sứ bắt đầu nhú ra từ vết cắt thì không cần phơi nữa. Trong thời gian từ lúc vào chậu đến lúc nhú mầm, bạn chỉ nên tưới nước phun sương ở lớp đất mặt nếu thấy khô, không được tưới ngập nước nếu để ngập nước cây sẽ dễ bị thúi hoặc chết.

Bước 5: Khi cây Sứ bắt đầu nhú mầm lúc này bạn có thể phơi hoa Sứ ngoài nắng mạnh (nắng 80-100% ), từ lúc này bạn có thể tưới nước bình thường cho cây. Giai đoạn nhú mầm thường có rất nhiều sâu, bạn phải thường kiểm tra, bắt và loại bỏ trứng sâu trước khi nó ăn hết chồi non của cây.

Giai đoạn này bạn nên dùng phân NPK 20-20-20 là bón cho tới khi chồi phát triển hoàn chỉnh. Chồi dài đến 10cm thì chuyển qua phân NPK 15-30-15 hay NPK 20-30-20 để cây Sứ ra hoa.

Mẹo chăm sóc cây hoa Sứ cho ra hoa đẹp, hoa sai.

Muốn cây hoa Sứ ra nhiều hoa, hoa nở đẹp thì không được để cành quá dài. Phải thường xuyên cắt tỉa những cành hoa Sứ dài và đã tàn, như vậy mới kích thích cây hoa sứ đâm chồi mới và cho nhiều hoa hơn. Để hoa Sứ nở đúng dịp tết cũng dễ, dựa vào thời tiết, nếu lượng mưa trong năm nhiều thì cắt cành vào tháng 7 âm lịch còn nếu hạn kéo dài thì để dài cành qua tháng 8 âm lịch mới cắt.

Bón phân cho hoa sứ

Cây dưới 6 tháng tuổi: Là giai đoạn cần kích thích cây hoa Sứ ra rễ, chồi, lá… Pha loãng 10-15gr NPK 20-20-15 + TE hoặc NPK 16-12-8 + TE tưới phun sương bề mặt đất, mỗi lần tưới cách nhau 15-20 ngày, kết hợp với bón phân đầu trâu theo định kỳ 10 ngày một lần.

Cây từ 6 thán đến 1 năm: Giai đoạn này là giai đoạn bón thúc bằng phân 20-20-15 + TE hoặc NPK 16-12-8 + TE theo định lượng 20-30gr, cứ cách 20-30 ngày phun một lần, phun bình thường và bổ sung thêm phân đầu trâu 007.

Cây hoa sứ trên 1 năm tuổi: Đây là giai đoạn cây đã ra hoa, nên cần bón thúc định kỳ như gai đoạn 2 của Sứ, bổ sung thêm phân đầu trâu 005 và đầu trâu 009 để kích thích đâm chồi ra nhiều hoa hơn.

Diệt trừ sâu hại trên cây sứ.

Cây hoa Sứ ra chồi non và lá non rất nhiều nên cũng thường bị sâu tấn công, chủ yếu là loài sâu xanh, dễ thấy dễ bắt. Bạn chỉ cần thường xuyên kiểm tra cây hoa Sứ, bắt sâu bằng tay và loại bỏ trứng sâu là được. Tránh sử dụng thuốc trừ sâu vì có thể làm cho lá non bị cháy.

Đôi nét về Sản phẩm Lợi Dân:

Lợi Lợi Dân là một trong những doanh nghiệp tiên phong hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng các sản phẩm phụ trợ nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm phụ trợ lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao như:

Lưới bao che trái cây (Táo, Mận, Chanh Dây …)

Lưới che nắng (liên doanh, nhập khẩu)

Bạt trải diệt cỏ (màu đen, màu bạc)

Mọi chi tiết Liên hệ: Hotline 028 7108 1616 hoặc Fanpage Sản Phẩm Lợi Dân

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đại Sứ Quán Và Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ Tại Việt Nam trên website Ngubao.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!